Khi không còn ai nhìn thấy, chúng ta có còn là chính mình?
Có những phiên bản của một con người chỉ xuất hiện khi có người khác ở đó. Ta nói khác khi ở nơi làm việc. Cư xử khác khi về nhà. Trở thành một người khác đôi chút khi gặp bạn bè, khi đứng trước người mình yêu, khi nói chuyện với cha mẹ, khi […]
Có những phiên bản của một con người chỉ xuất hiện khi có người khác ở đó.
Ta nói khác khi ở nơi làm việc. Cư xử khác khi về nhà. Trở thành một người khác đôi chút khi gặp bạn bè, khi đứng trước người mình yêu, khi nói chuyện với cha mẹ, khi xuất hiện trước một người có quyền lực hoặc khi bước vào một căn phòng đầy những người xa lạ.
Rồi có một phiên bản khác ít được nhìn thấy hơn.
Đó là con người khi cánh cửa đóng lại, điện thoại được đặt xuống, không còn ai cần gây ấn tượng, không còn ánh mắt nào chờ đợi một phản ứng thích hợp. Ta không cần chứng minh mình thành công, vui vẻ, mạnh mẽ, tử tế, hiểu biết hay ổn định. Trong khoảng không ấy, một câu hỏi tưởng như rất riêng tư bắt đầu xuất hiện:
Khi không còn ai nhìn thấy, chúng ta có còn là chính mình?
Hay chính lúc ấy, một phần khác của cái tôi mới bắt đầu lộ ra?
Một con người, nhiều phiên bản
Chúng ta thường nói về việc sống là chính mình như thể mỗi người có một phiên bản nguyên bản nằm sẵn ở bên trong, còn mọi phiên bản xuất hiện trước xã hội chỉ là những lớp vỏ phủ lên nó.
Nhưng đời sống con người có lẽ phức tạp hơn.
Một người có thể nghiêm túc trong công việc nhưng hài hước khi ở cạnh bạn bè. Có thể quyết đoán khi điều hành một nhóm nhưng mềm yếu trước người mình yêu. Có thể nói rất nhiều trong một cuộc họp nhưng gần như im lặng khi trở về nhà.
Phiên bản nào là thật?
Nếu chỉ con người lúc ở một mình mới là thật, vậy tình yêu ta dành cho người khác có phải giả không? Sự chuyên nghiệp trong công việc có phải một màn trình diễn? Cách ta kiềm chế một lời nói làm tổn thương người khác có phải hành động trái với bản thân?
Có lẽ không.
Con người tồn tại trong quan hệ. Một phần con người chỉ xuất hiện khi gặp một người khác. Ta không thể biết mình là một người bạn thế nào nếu chưa từng có bạn. Không thể biết mình yêu thế nào nếu chưa từng yêu. Không thể biết mình phản ứng với trách nhiệm ra sao nếu chưa từng phải chịu trách nhiệm.
Vì thế, con người xã hội không nhất thiết là con người giả.
Nhưng điều đó không có nghĩa mọi phiên bản ta trình bày trước thế giới đều hoàn toàn thuộc về mình.
Giữa thích nghi và trình diễn có một vùng rất rộng.
Và đôi khi chính ta cũng không biết mình đang đứng ở đâu trong vùng ấy.
Ánh mắt của người khác đi vào bên trong chúng ta từ lúc nào?
Rất sớm trong đời, con người bắt đầu nhận ra rằng một số hành vi đem lại sự công nhận, còn một số hành vi khiến mình bị từ chối.
Một đứa trẻ được khen khi ngoan ngoãn có thể học rằng ngoan ngoãn khiến mình được yêu quý. Một đứa trẻ thường được công nhận vì thành tích có thể dần liên kết giá trị bản thân với việc phải làm tốt. Một người luôn được khen vì mạnh mẽ có thể đến một lúc không còn biết cách thừa nhận rằng mình đang mệt.
Không nhất thiết có ai cố tình tạo ra những điều ấy.
Chúng có thể hình thành rất tự nhiên trong quá trình một con người học cách sống cùng những người khác.
Ta nhận được phản hồi từ gia đình.
Từ trường học.
Từ bạn bè.
Từ nơi làm việc.
Từ những người mình yêu.
Và bây giờ, từ cả một thế giới trực tuyến nơi sự chú ý có thể được nhìn thấy bằng những con số.
Qua thời gian, ánh mắt bên ngoài không còn hoàn toàn nằm bên ngoài.
Nó đi vào trong đầu.
Ta bắt đầu tự nhìn mình bằng cách tưởng tượng người khác đang nhìn mình thế nào.
Một quyết định có thể chưa xảy ra nhưng trong đầu đã xuất hiện câu hỏi: Họ sẽ nghĩ gì?
Một bức ảnh chưa đăng nhưng ta đã nghĩ: Người khác sẽ thấy mình thế nào?
Một lựa chọn nghề nghiệp chưa được thực hiện nhưng ta đã tưởng tượng phản ứng của gia đình, bạn bè và xã hội.
Ngay cả khi căn phòng không có ai, đôi khi ta vẫn đang sống trước một khán giả vô hình.
Nhu cầu được công nhận có phải là yếu đuối?
Có một cách nói khá phổ biến rằng con người nên sống mà không cần sự công nhận của bất kỳ ai.
Tôi hiểu sức hấp dẫn của ý tưởng ấy, nhưng tôi không chắc nó phản ánh đầy đủ đời sống con người.
Chúng ta là những sinh vật sống trong quan hệ. Được nhìn thấy, được lắng nghe, được công nhận và cảm thấy mình thuộc về đâu đó là những nhu cầu rất con người.
Một đứa trẻ cần sự công nhận để hình thành cảm giác về bản thân. Người trưởng thành cũng không hoàn toàn thoát khỏi điều đó. Một lời ghi nhận đúng lúc có thể giúp một người hiểu rằng nỗ lực của mình có ý nghĩa. Một ánh mắt tin tưởng có thể giúp họ bước qua thời điểm nghi ngờ chính mình.
Vấn đề có lẽ không nằm ở việc chúng ta cần được công nhận.
Nó xuất hiện khi sự công nhận trở thành nguồn duy nhất xác nhận rằng mình có giá trị.
Khi đó, hình ảnh bản thân bắt đầu phụ thuộc quá nhiều vào phản ứng bên ngoài.
Nếu được khen, ta cảm thấy mình tốt.
Nếu bị phê bình, toàn bộ cảm giác về bản thân lung lay.
Nếu được chú ý, ta cảm thấy mình tồn tại.
Nếu bị bỏ qua, ta bắt đầu nghi ngờ giá trị của mình.
Và khi sự công nhận trở thành dưỡng khí, con người có thể dần điều chỉnh cuộc đời để không bao giờ thiếu nó.
Chúng ta đang sống, hay đang quản lý hình ảnh về chính mình?
Có một khác biệt tinh tế giữa việc sống một cuộc đời và việc liên tục quan sát xem cuộc đời ấy trông như thế nào từ bên ngoài.
Ta có thể đang ăn một bữa ngon nhưng đồng thời nghĩ đến việc chụp nó thế nào.
Đang đi đến một nơi đẹp nhưng một phần tâm trí đã đứng bên ngoài khoảnh khắc để xem nó sẽ xuất hiện ra sao trên màn hình.
Đang đạt được một thành tựu nhưng chưa kịp cảm nhận niềm vui đã nghĩ đến cách người khác sẽ phản ứng.
Điều này không có nghĩa chụp ảnh, chia sẻ hay muốn được ghi nhận là sai.
Điều đáng suy nghĩ là tỷ lệ giữa trải nghiệm và hình ảnh của trải nghiệm.
Nếu một khoảnh khắc chỉ trở nên có giá trị sau khi được người khác nhìn thấy, có thể ánh mắt bên ngoài đã đi khá sâu vào cách ta trải nghiệm chính cuộc đời mình.
Có những lúc ta không còn chỉ hỏi:
Tôi có hạnh phúc không?
Mà vô thức chuyển thành:
Cuộc sống của tôi có trông hạnh phúc không?
Hai câu hỏi nghe gần nhau.
Nhưng chúng có thể dẫn tới hai cuộc đời rất khác.
Những vai diễn không nhất thiết là giả dối
Trong đời sống, mỗi người đều có nhiều vai.
Con của ai đó.
Cha hoặc mẹ của ai đó.
Người yêu.
Bạn bè.
Đồng nghiệp.
Người quản lý.
Nhân viên.
Người xa lạ đi ngang qua một người xa lạ khác.
Mỗi vai có những kỳ vọng và giới hạn riêng. Ta không thể cư xử với đồng nghiệp giống hệt cách mình cư xử với bạn thân. Không thể mang toàn bộ thế giới nội tâm vào mọi mối quan hệ và gọi đó là chân thật.
Vì vậy, sống thật không nhất thiết có nghĩa là nói tất cả những gì mình nghĩ, thể hiện tất cả những gì mình cảm thấy hay từ chối mọi chuẩn mực xã hội.
Có những điều ta giữ lại không phải vì giả tạo mà vì trưởng thành.
Có những cảm xúc ta điều chỉnh vì biết người khác cũng có giới hạn.
Có những vai trò đòi hỏi kỷ luật, trách nhiệm và khả năng bước ra khỏi những thôi thúc nhất thời.
Một con người hoàn toàn không có “vai diễn” có lẽ khó tồn tại trong xã hội.
Điều đáng lo hơn là khi vai diễn kéo dài đến mức người diễn không còn biết điều gì tồn tại phía sau nó.
Một người đã đóng vai mạnh mẽ quá lâu có thể không biết mình được phép yếu đuối.
Một người luôn cố làm hài lòng người khác có thể không còn biết mình thực sự muốn gì.
Một người xây dựng hình ảnh thành công trong nhiều năm có thể sợ cả khoảnh khắc phải thừa nhận rằng mình không hạnh phúc.
Khi ấy, chiếc mặt nạ không còn chỉ che khuôn mặt.
Nó bắt đầu định hình khuôn mặt phía dưới.
Thế giới nội tâm có thật hơn thế giới bên ngoài không?
Khi nói đến thế giới nội tâm, chúng ta thường có xu hướng xem đó là nơi chứa con người chân thật nhất.
Ở một mức độ nào đó, điều này có lý.
Trong tâm trí tồn tại những suy nghĩ ta chưa từng nói, những nỗi sợ chưa từng thừa nhận, những mong muốn không phù hợp với hình ảnh ta xây dựng, những câu hỏi ta không muốn người khác biết mình đang hỏi.
Nhưng ngay cả thế giới nội tâm cũng không hoàn toàn đứng ngoài ảnh hưởng.
Ngôn ngữ ta dùng để suy nghĩ đến từ cộng đồng.
Các chuẩn mực mà ta dùng để tự đánh giá phần lớn được học từ môi trường.
Điều ta xấu hổ, tự hào, sợ hãi hay khao khát cũng có lịch sử.
Vì vậy, nếu bóc hết những lớp ảnh hưởng của gia đình, xã hội, văn hóa, ký ức và quan hệ, liệu cuối cùng có còn một cái tôi nguyên chất ở bên dưới?
Tôi không biết.
Có thể bản sắc cá nhân không phải một vật thể được giấu ở nơi sâu nhất, chờ ta tìm thấy.
Có thể nó giống một quá trình hơn: thứ liên tục được hình thành từ những gì ta nhận được, những gì ta từ chối, những gì ta lựa chọn và cách ta diễn giải những điều đã xảy ra với mình.
Nếu vậy, “tìm thấy chính mình” không hẳn là cuộc khai quật để tìm một phiên bản nguyên bản.
Đôi khi đó là quá trình quyết định xem mình muốn tiếp tục trở thành người nào.
Khi không còn khán giả
Hãy thử tưởng tượng một ngày không ai biết ta đang làm gì.
Không có mạng xã hội.
Không có lời khen.
Không có sự ngưỡng mộ.
Không có ai để gây ấn tượng.
Không có ai để thất vọng về ta.
Không có bảng thành tích.
Không có một câu chuyện phải kể lại sau đó.
Ta sẽ mặc gì?
Ta sẽ dành thời gian vào đâu?
Ta sẽ còn muốn mua những thứ mình đang muốn mua?
Còn muốn đạt những mục tiêu mình đang theo đuổi?
Còn muốn sống ở nơi mình đang sống?
Còn muốn trở thành người mình đang cố trở thành?
Không phải mọi câu trả lời thay đổi đều chứng minh rằng trước đây ta sống giả tạo. Một phần giá trị của nhiều điều vốn nằm trong việc được chia sẻ với người khác. Một bữa tiệc không còn ý nghĩa giống nhau nếu không có người tham dự. Một thành tựu nghề nghiệp cũng tồn tại trong thế giới xã hội chứ không phải khoảng chân không.
Nhưng thí nghiệm tưởng tượng ấy vẫn có ích.
Nó giúp ta nhận ra điều gì vẫn còn ý nghĩa ngay cả khi không được nhìn thấy.
Và điều gì gần như biến mất ngay khi khán giả rời đi.
Có thể “tôi” không phải chỉ một người
Tôi ngày càng thấy khó tin rằng trong mỗi con người chỉ tồn tại một phiên bản duy nhất có quyền được gọi là “tôi thật”.
Con người khi ở một mình là ta.
Con người khi yêu cũng là ta.
Người đang làm việc là ta.
Người đang sợ hãi là ta.
Người muốn được công nhận là ta.
Và cả người đôi khi mệt mỏi với việc phải được công nhận cũng là ta.
Có lẽ vấn đề không phải tìm ra phiên bản nào là thật rồi loại bỏ tất cả những phiên bản còn lại.
Điều quan trọng hơn có thể là xem giữa những phiên bản ấy có một sự liên tục nào không.
Những giá trị ta nói trước người khác có còn tồn tại khi không ai nhìn thấy?
Sự tử tế có còn đó khi không nhận được lời cảm ơn?
Nguyên tắc có còn đó khi phá vỡ nó không gây hậu quả?
Điều ta tuyên bố là quan trọng có còn được dành thời gian khi không cần chứng minh với ai?
Ở đây, việc sống là chính mình có thể mang một nghĩa khác.
Không phải lúc nào cũng hành động giống nhau.
Mà là không để khoảng cách giữa con người bên ngoài và con người bên trong lớn đến mức hai phía không còn nhận ra nhau.
Một căn phòng không có gương
Có lẽ mỗi người đều cần đôi lúc bước vào một căn phòng tưởng tượng không có gương.
Không phải chiếc gương bằng kính.
Mà là những chiếc gương mang hình dạng của ánh mắt người khác.
Trong căn phòng ấy, không ai đánh giá ta thành công hay thất bại. Không ai biết ta đang làm gì. Không có phản hồi tức thì để xác nhận rằng lựa chọn này đáng ngưỡng mộ, sở thích kia đủ thú vị hay cuộc đời nọ đủ đẹp.
Ban đầu, sự im lặng ấy có thể khó chịu.
Bởi khi những phản hồi bên ngoài biến mất, ta phải nghe một thứ khó nghe hơn nhiều: tiếng nói của chính mình, với tất cả sự không chắc chắn của nó.
Có thể ta phát hiện mình thực sự yêu một số điều mà trước đây tưởng chỉ là thói quen.
Cũng có thể nhận ra mình đã theo đuổi vài mục tiêu chủ yếu vì muốn được nhìn thấy.
Có thể chẳng có phát hiện lớn nào cả.
Nhưng ngay cả việc biết rằng mình vẫn thích một điều khi không ai chứng kiến cũng đã nói lên điều gì đó.
Có lẽ câu hỏi “Tôi là ai?” không có một đáp án cuối cùng.
Bởi ta vẫn đang thay đổi.
Những mối quan hệ sẽ thay đổi ta. Thời gian sẽ thay đổi ta. Những mất mát, lựa chọn, sai lầm và hiểu biết mới cũng sẽ tiếp tục viết thêm vào bản sắc cá nhân.
Nhưng giữa tất cả những chuyển động ấy, vẫn có một câu hỏi đáng để thỉnh thoảng quay lại:
Nếu hôm nay không còn ai nhìn thấy, không còn ai khen ngợi, không còn ai thất vọng và cũng không còn ai cần được thuyết phục về giá trị của tôi, tôi sẽ sống ngày này khác đi bao nhiêu?
Có lẽ phần chênh lệch giữa hai câu trả lời chưa chắc là nơi chứa “con người thật”.
Nhưng nó có thể là một cánh cửa.
Và phía sau cánh cửa ấy là một thế giới nội tâm mà đôi khi chúng ta đã quá bận trình bày mình với thế giới để thực sự bước vào.
Chuyên mục: Không gian suy tưởng
Tác giả: Trúc Ly Lily
- Khi không còn ánh mắt
- lời khen hay sự công nhận của người khác
- phần nào trong chúng ta vẫn còn nguyên? Một góc nhìn về bản sắc cá nhân
- thế giới nội tâm và hành trình sống là chính mình.
- hi-khong-con-ai-nhin-thay-chung-ta-co-con-la-chinh-minh
- sống là chính mình
- bản sắc cá nhân
- thế giới nội tâm
- Khi không còn ai nhìn thấy
- chúng ta có còn là chính mình?















